Chân dung văn học – Vài kỷ niệm với nhà thơ Xuân Diệu
Người viết: Nhà thơ Trần Đăng Khoa (trích Tuyển tập 10 năm Tạp chí Văn học và tuổi trẻ) in năm 2004
SÁCH CŨ GIA ĐÌNH biên tập lại
Vài kỷ niệm nhỏ với nhà thơ Xuân Diệu
– Nhà thơ Trần Đăng Khoa
Xuân Diệu đến với tôi vào năm 1968. Ông đi cùng Huy Cận về quê tôi dự Đại hội cháu ngoan Bác Hồ. Và ở Đại hội ấy, tình cờ ông gặp tôi. Mãi sau này lớn lên, tôi mới biết đó là cách sắp xếp, bố trí của các anh, các chị Huyện đoàn. Họ sợ tôi tự kiêu trước sự kiện hai nhà thơ lớn tìm đến nhà. Ở cái thời ấy, người nào mang tiếng là tự kiêu thì coi như là kẻ vô dụng, là đồ bỏ đi rồi. Xuân Diệu cùng tôi chơi trò đóng kịch dưới sự dàn dựng của các nhà đạo diễn không chuyên ở Huyện đoàn. Nhưng về đến Nam Sách thì ông quên mất cái Đại hội ầm ỹ tiếng trống ếch ấy. Nửa đêm, ông lần về nhà tôi. Theo như lời mẹ tôi kể lại thì bác “nhà báo” đã mượn cây đèn bão xách ra vườn tìm gặp những “nhân vật: thân thuộc của tôi. “Bác ấy kiểm tra xem mày nói có đúng không. Khổ, có thế nào thì cứ nói như thế, đừng đặt thêm ra, kẻo lại mang tiếng là mình ăn ở không thật thà. Thấy bác ấy kiểm tra, tao cứ lo lo là. Nhưng bác ấy vui lắm. Tiếng thế, nhưng đêm qua, u vẫn chẳng ngủ được. Thế có làm sao không hở con? Mà thôi, đừng có thơ phú gì nữa cho rắc rối ra. Cứ đi cày như bố mày là yên chuyện!”.
Mẹ tôi vẫn băn khoăn, lấn bấn không yên cho mãi đến chiều hôm sau, khi Xuân Diệu cùng Huy Cận vui vẻ kéo tôi trở lại nhà. Cũng sau lần gặp gỡ ấy Xuân Diệu trở thành người thầy dạy nghề thân thiết của tôi. Ông để lại cho tôi nhiều bài học thấm thía. Có khi ông chỉ chữa giúp tôi một chữ mà bài thơ biến đổi cả thần thái. Ví như bài Đêm Côn Sơn chẳng hạn. Nhiều người nhắc đến câu thơ Ngoài thềm rơi cái lá đa / Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng. Xuân Diệu cũng khen hai câu thơ này, ông cho là tôi nghe rất tinh, có giác quan tinh tế. Nhưng thực ra khi viết, tôi đâu có nghe, mà cũng chẳng nghĩ ngợi gì nhiều. Tôi chỉ muốn lấy cái động của lá rụng để diễn tả cái tĩnh của ngôi chùa. Thế thôi, và tôi bịa ra cái lá đa. Thực chất, Côn Sơn không có đa. Sân chùa chỉ có mấy cây đại, cây ngâu, và xa hơn nữa là đồi thông và rừng bạch đàn, có bói cũng chẳng ra đa. Nhưng phải có cây đa thì mới ra cái chùa. Con vua thì lại làm vua / Con sãi ở chùa thì quét lá đa. Cây đa thường đi với cái chùa. Nó biểu thị cho sự trường cửu. Tất nhiên câu thơ của tôi được ai đó ưu ái nhắc đến không phải vì cái lá đa. Lá đa hay lá mít thì cũng thế thôi. Thực chất, câu thơ ấy chỉ có được một chữ, là chữ mỏng. Nếu viết Tiếng rơi rất nhẹ như là rơi nghiêng, thì sẽ rất bình thường, rất lười nhác và người ta sẽ quên ngay. Khi viết bài thơ này, tôi nằm trong chùa, ngủ ngay dưới chân Bụt. Tôi lại nằm ngoài cùng trong đám học sinh lau nhau nên rất sợ. Đêm trong chùa lố nhố những bóng Bụt. Mắt Bụt lại lấp lánh. Tôi rất sợ. Nhưng Bụt có làm gì mình đâu mà sợ. Tôi tự trấn tĩnh. Và tôi viết:
Mờ mờ ông Bụt ngồi nghiêm
Sợ gì, ông vẫn ngồi yên lưng đền
Sợ gì, là tôi đừng sợ gì ông Bụt, ông vẫn chỉ ngồi yên thế thôi. Câu thơ rất bình thường. Nhưng đến tay Xuân Diệu, ông chữa thành: Mờ mờ ông Bụt ngồi nghiêm / Nghĩ gì ông vẫn ngồi yên lưng đền. Xuân Diệu chỉ thay một chữ Nghĩ, ông Bụt đã hóa thành cơ thể sống, đã thành sự sống. Câu thơ bỗng sinh động có thần.
So với bạn bè làm thơ cùng lứa, tôi có nhiều may mắn. Được sớm tiếp xúc với Xuân Diệu, với nhiều nhà thơ lớn cao nghề, đã đành. Các tác phẩm viết ra cũng được in kịp thời. Thoạt đầu thường in ở địa phương. Rồi sau, Hà Nội mới in lại. Khi tái bản, tôi thường sửa chữa lại, đánh vật với từng chữ, theo đúng cách lao động nghệ thuật của Xuân Diệu. Có bài, chỉ cần đảo một chữ, câu thơ đã có dáng vẻ. Bài Tiếng chim chích chòe, thoạt đầu, tôi viết: Gió đồng vui reo / cánh đồng rộng rãi. Đọc lại thấy vớ vẩn quá, trẻ con quá. Gió đồng thì tất nhiên là vui reo. Cánh đồng thì tất nhiên là rộng rãi. Đúng là thấy gì nói nấy, chẳng nghĩ ngợi gì. Câu thơ trơn tuồn tuột. Tôi đổi lại: Cánh đồng vui reo / Gió đồng rộng rãi. Nghe đỡ hơn, bớt lười nhác hơn. Cũng tương tự như thế, câu thơ Lúa chiêm chín rực đôi bờ phi lao. Nắng chiêm là nắng về vụ chiêm. Xuân Diệu khen là có sáng tạo. Đến bài Đêm Côn Sơn, tôi ngồi thừ ra. Bài này, Xuân Diệu đã OTK rồi, đã khen có bút pháp cổ điển, kỹ thuật thơ cao. Nhưng tôi vẫn chưa bằng lòng bởi mấy chữ đền. Nhiều đền quá.
Mờ mờ ông Bụt ngồi nghiêm
Nghĩ gì ông vẫn ngồi yên lưng đền
Bỗng đâu vang tiếng sấm rền
Tỉnh ra em thấy trong đền đỏ hương.
Tôi quan niệm, thơ lục bát phải đúng niêm luật, “mộng mẹo” phải chặt chẽ, vần điệu không những phải nhuần nhuyễn mà chữ cũng không được trùng lặp, trừ khi trùng lặp cố tình, nhằm diễn đạt một ý tưởng gì, muốn bớt một chữ đi, và chữa lại: Tỉnh ra em thấy sáng đèn, đỏ hương. Tập thơ được in, phát hành với số lượng cao. Tôi đem tặng Xuân Diệu. Tặng là tặng cho phải đạo, chứ đây là cái đồ cải mả. Xuân Diệu đã đọc cả rồi, ông có thời gian đâu mà đọc lại lần nữa. Không ngờ, Xuân Diệu đọc rất kỹ, gặp tôi, ông mắng luôn:
– Cậu làm hỏng bài thơ rồi. Bài thơ đã toàn bích, lại mang ra vặn vẹo. Cậu chữa lợn lành thành lợn què.
Xuân Diệu chỉ nói vậy, nói một cách tổng quát như ông vẫn thường nói. Tôi về nhà, mở bài thơ lật đi lật lại mới hay mình đã làm hỏng thật. Hỏng trước hết là vô lý. Đèn đã sáng thì hương làm sao còn đỏ được. Vả lại, đèn ở đâu mà sáng cơ chứ. Trong chùa người ta không thắp đèn. Ngọn đèn vặn nhỏ đặt ở bệ thờ, không phải để làm nhiệm vụ tỏa sáng, nó chỉ có tác dụng giữ lửa để tiếp cho nén nhang nào bị tắt. Thêm nữa, mặt Bụt lại phơi ra trước ánh sáng thì còn gì là Bụt nữa! Bụt chỉ là Bụt – nghĩa là chỉ linh thiêng, sống động khi các ngài ngự ở trong cái quầng tối mờ mờ…/.

