Chân dung văn học – Với nhà văn Nguyên Hồng
Người viết: Nhà văn Lê Lựu (trích Tuyển tập 10 năm Tạp chí Văn học và tuổi trẻ) in năm 2004
SÁCH CŨ GIA ĐÌNH biên tập lại
Với nhà văn Nguyên Hồng
– Nhà văn Lê Lựu
Từ 20 năm về trước, kể từ khóa bồi dưỡng những người viết văn trẻ đầu tiên đến nay lớp nhà văn học trò của thầy Nguyên Hồng đã có thể thành một đội ngũ có mặt ở mọi chiến dịch, mọi nhiệm vụ khắp nơi trong những năm kháng chiến gian khổ và xây dựng Tổ quốc. Riêng những người cầm bút trong quân đội từ Nguyễn Trọng Oánh, Hoàng Văn Bổn, Xuân Sách, Mai Vui, Khánh Vân đến Đỗ Chu, Triệu Bôn, Nguyễn Thị Như Trang, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bảo, Trần Hữu Tòng, Đặng Văn Nghĩa, Phùng Nhân, Vũ Thị Hồng – dù ở khu 3 hay Việt Bắc, ở B4, B5 hay B3, B2 đều không thể quên cái dáng tất bật lúc nào cũng như chạy, chạy với thời gian để viết, để “rút ruột” mình cho người viết lớp sau. Không thể nào quên người thầy ấy, một nhà văn thực sự lớn lao và đồ sộ không chỉ bằng bề dày, bề rộng của tác phẩm, của số trang thực sự đã sâu và đầy từ mỗi người viết trẻ chúng tôi, từ mỗi người đã đọc, đã gặp và sống với nhà văn – người thầy lớn, tấm gương sáng về sức lao động liên miên và “hết mình” cho trang viết của thầy và cho chúng tôi.
Nhớ ngày là học sinh của khóa 2, có lần tôi đến phòng anh quản lý xin nước mắm để nấu cà mè chua của mấy cậu bé câu trộm ở hồ Quảng Bá. Qua cánh cửa khép hờ chỉ thấy một mình “thầy” đang nằm bắc chân chéo khoeo, ngửa mặt nhìn trần nhà, hai ngón tay kẹp lấy chòm râu xoắn xoắn và tủm tỉm cười, cái cười nhọn, vừa như giễu cợt, vừa như đau đớn. Chờ đến 15, 20 phts vẫn không thấy thầy nhúc nhích, thay đổi. Tôi gõ nhẹ vào cánh cửa. Vẫn nguyên tư thế cũ và tủm tỉm cười, thầy hỏi giọng như rên: “Ai đấy” – “Dạ cháu. Cháu định xin anh Thủy ít nước mắm”. “Hé, sao cái sự nước mắm lại vào lúc này nhỉ! Hừ, giả dối, nhục nhã!”. Tôi đâm hoảng không hiểu sao “cái sự nước mắm lúc này” lại giả dối, nhục nhã. Thầy ngồi chồm dậy và nhận ra tôi, gọi tôi vào gần, mặc tôi cầm cái bát giấu sau lưng, và đứng như chôn chân ở cạnh chân giường. Thầy hỏi mà không để tôi trả lời, cứ hỏi rồi cứ nói một cách đau khổ. Rằng anh nghĩ ngợi gì về cái truyện của anh… sáng nay đọc ở hội trường, “Tôi… Tôi, tôi không ngờ lại có một học trò đã khôn ngoan mẹo mực, nó giả dối, nó bịa đặt, nó lừa bịp, nó xiếc chữ, nó vay mượn, nó lưu manh, nó bợt bạt, nó không phải là cái…”. Nó không là một cái gì đấy mà những từ thấy đau khổ rút nó như làm đứt tung khúc ruột vẫn chưa thể tìm ra chữ nào đúng nhất gợi nó ra khiến thầy gục xuống chớp chớp mắt, kẹp hai ngón tay xoắn chòm râu và lặng đi.
Lúc này tôi mới hiểu sự bực bội của thầy vì sáng nay ở lớp chúng tôi, có một anh đọc truyện sau nửa tháng đi thực tập. Với anh em mới viết bập bẹ, chúng tôi đã có thể coi truyện đó là được vì thấy xuôi xuôi, có tả người, tả cảnh, tả tình yêu trắc trở. Cũng có thấy mang máng ở đâu và nghe xong người mình cứ trơ ra không vui, không buồn, không yêu mến hoặc ghét bỏ nhưng không có cái gì cụ thể để góp ý, bắt bẻ thành ra hoặc im lặng, hoặc lời góp cũng tẻ nhạt như truyện người viết ra nó. Duy chỉ có thầy Nguyên Hồng là bực bội đến phẫn nộ về người viết không hề có tình cảm riêng, chính kiến riêng, ngay cả cái cảnh nơi xảy ra truyện, người viết cũng bịa chứ chưa hề đến đó. Cả buổi sáng thầy đã phân tích cho chúng tôi từng chữ, từng chi tiết chắp vá của truyện ấy. Ngỡ tưởng thế là xong, nào ngờ đã hơn hai giờ chiều rồi một bát cơm và cục mì luộc để cạnh bát canh rau muống nấu suông – cái suất ăn hằng ngày của nhà văn vẫn còn nguội lạnh trên bàn và tôi thì bỏ mấy con mè chắc đã ươn để chia sẻ nỗi đau khổ day dứt của thầy, cả hàng giờ. Chờ im lặng khá lâu tôi mới thấy thầy ngẩng lên, túm lấy tay tôi: “Cháu, này, thằng lính mu-gich của bác, cả thằng Sửu (Triệu Bôn), thằng Chu, con Trang, thằng Tòng, Xuân Sách, Mai Vui, những thằng, những con lính phải là lính nhé! Ừ, phải là lính – Bác lại tủm tỉm cười, gật, gật đầu: “Anh lính chỉ có đồng đội chung quanh và kẻ thù ở trước mặt. Cần thế thôi, nhớ thế thôi, tâm niệm, đinh ninh thế, đừng hám, tuyện không được hám cái gì khác là không viết được, nhất thiết không viết được. Các cháu đang học viết là học đánh giắc đấy. Bắn viên đạn giả vào thằng giặc nó không chết. Hé, nó không chết thì mình phải chết, chết nhục nhã, chết nhơ nhuốc, chết, chết… như cái thằng đem toàn của giả làm văn chương sẽ chết, chết trước sự khinh bỉ, tởm tiếc của người đọc”.
Khi còn ở Quảng Bá hay sơ tán ở Thị Xá (Quế Võ – Hà Bắc) mỗi chiều, mỗi tối trên đê sông Hồng và sông Đuống ấy chúng tôi lại có một câu chuyện vui, một niềm kiêu hãnh về thầy Nguyên Hồng. Rằng, ngày hôm nay “thầy” khóc cả buổi trưa vì cái bà nhà văn nước tư bản ấy đã nói những lời chân thành, xúc động về nhân dân Việt Nam đánh Mỹ. Rằng, chiều nay thầy bỏ cơm và khóc nức nở, khóc dàn dụa vì Gái đen (1) đã chết. Rằng, đêm qua viết đến quá nửa đêm thầy vẫn ngồi xếp bằng ở chiếu gục đầu xuống bản thảo dài như tờ sớ trải ở chõng mà khóc cho số phận một nhân vật nào đó cho đến sáng. Rằng, hôm qua họp chi bộ đánh giá việc lãnh đạo đi thực tế và viết trong thời gian qua là rất tốt và thầy Nguyễn Hồng đã khóc. Rằng, ai cũng có thể bắt gặp, chia sẻ cái khóc của nhà văn Nguyên Hồng, nhưng không ai có thể cười cợt, chế giễu vì ngay đến kẻ lừa gạt cung không thể nhạo báng lòng thành thật. Một tình yêu thương và xúc động mãnh liệt, thành thật. Sự “sinh tử” cho nghề, cho giá trị của những trang viết phục vụ chiến sĩ, phục vụ nhân dân và thành thật. Từ bỏ mọi vinh hoa để sống cuộc sống giản trị, trong sạch đến khổ hạnh cũng thành thật. Tất cả như một lẽ tự nhiên, bật toát ra một tấm lòng Nguyên Hồng, một nhân cách Nguyên Hồng, một sức lao động Nguyên Hồng, một người thầy lớn của chúng tôi: Nhà văn Nguyên Hồng.
Chú thích: (1) Một nhân vật trong bộ tiểu thuyết Cửa biển của Nguyên Hồng

